Trong giáo dục đặc biệt, trẻ tăng động giảm chú ý là đối tượng thường gặp với nhiều hiểu nhầm gây nên sự lo lắng không cần thiết cho các bậc cha mẹ. Bài viết dưới đây xin đề cập đến nội dung này với mục tiêu cung cấp kiến thức cơ bản và chính xác về trẻ cũng như đề ra những chiến lược hỗ trợ các khó khăn của trẻ một cách hiệu quả

ĐỊNH NGHĨA ADHD
ADHD là một trong những rối loạn về hành vi phổ biến nhất ở độ tuổi học đường. Trẻ ADHD chiếm từ 3-6% trên tổng số trẻ đi học, trong đó tỉ lệ giữa nam và nữ là 3:1. Nghiên cứu trên 1594 trẻ trong độ tuổi đi học tiểu học ở Hà Nội cho thấy có 3.01% trẻ mắc hội chứng ADHD (Nguyễn thị Vân Thanh, Nguyễn Sinh Phúc)/. Song song với khái niệm ADHD, người ta thường ít biết đến một khái niệm khác: ADD. (1)
ADD là Attention Deficit Disorder. (Rối loạn giảm chú ý)
ADHD hay còn viết dưới dạng AD/HD là Attention Deficit/ Hyperactivity Disorder (Rối loạn tăng động, giảm chú ý).
Theo định nghĩa của DSM – IV (2): ADHD là một dạng rối loạn phát triển diễn ra trong suốt thời kỳ thơ ấu, với những triệu chứng quá hiếu động, hấp tấp hoặc giảm tập trung xuất hiện trước 7 tuổi. Các biểu hiện này mâu thuẫn với mức độ phát triển và phải xuất hiện ít nhất ở trong hai môi trường.
Như vậy, ADHD là rối loạn có nguyên nhân chính là sinh học, thần kinh. Khó khăn cốt lõi của trẻ ADHD là do sinh lý thần kinh – đồng nghĩa với việc chính trẻ cũng cảm thấy bản thân khó hiểu và không thể kiểm soát được những hành vi không phù hợp của mình ở nhiều môi trường, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Các vấn đề về hành vi ở ADHD có tính lan tỏa, phát triển kinh niên, cốt lõi và không liên quan đến các rối loạn khác như tự kỉ hay các bệnh tâm thần.

PHÂN BIỆT TRẺ HIẾU ĐỘNG THƯỜNG VÀ TRẺ ADHD
Trẻ hiếu động thường có hành vi nghịch ngợm, ham hoạt động nhưng không liên tục trong khi trẻ ADHD không điều chỉnh được hành vi, hiếu động quá mức mọi lúc, mọi nơi.
Trẻ hiếu động thường có khả năng tập trung chú ý khi giáo viên tác động, can thiệp, hiểu được sự cho phép hoặc không cho phép, biết làm theo quy định trong khi trẻ ADHD không thể thay đổi được các hành vi của mình một cách có ý thức (dù có thể trẻ rất mong muốn).
Các hội chứng của tăng động giảm chú ý thường xuất hiện rõ rệt khi trẻ bước vào tuổi đi học (lớp 1), vì khi đó, trẻ chuyển từ hình thức hoạt động chủ yếu là CHƠI (ở mẫu giáo) sang hình thức hoạt động chủ yếu là HỌC (ở trường học) nên các hành vi không phù hợp với môi trường lớp học có dịp bộc lộ. Một trẻ bình thường hoàn toàn hiểu được các nội quy lớp học, kỷ luật và các quy định của giáo viên đề ra, trong khi trẻ ADHD thường xuyên chạy nhảy, ngọ nguậy, chật vật để ngồi yên một chỗ và thực thi những nhiệm vụ đơn giản nhất.
ĐẶC ĐIỂM CỦA TRẺ ADHD
ADHD bao gồm các đặc điểm: tăng động, giảm chú ý, xung động, hấp tấp.
ADHD được chia thành 3 dạng: dạng trội về giảm chủ ý (ADD), dạng trội về tăng động và xung động, dạng kết hợp.

Ba mẹ có thể dựa vào những đặc điểm dưới đây để quan sát và có những chiến lược đúng cho con mình. Lưu ý: việc chẩn đoán trẻ có thực sự mắc hội chứng ADHD hay không thuộc về các bác sĩ chuyên ngành, và cần có công cụ đánh giá uy tín, cụ thể, có minh chứng khoa học để khẳng định. Trẻ mắc hội chứng ADHD chắc chắn sẽ có những đặc điểm dưới đây, nhưng ngược lại, trẻ mắc một, hai hoặc một vài đặc điểm này không chắc đã mắc hội chứng ADHD.
a. GIẢM CHÚ Ý:
- Dễ bị mất tập trung khi có âm thanh, ánh sáng không phù hợp.
- Khó chú ý chi tiết, thường bị thầy cô nhận xét là cẩu thả.
- Hay quên, hay bị mất những đồ dùng tối cần thiết.
- Hay bỏ dở nhiệm vụ và chuyển sang hoạt động khác một cách đột ngột, không báo trước.
- Dễ bị lôi cuốn bởi các kích thích bên ngoài.
b. QUÁ HIẾU ĐỘNG:
- Luôn có cảm giác đứng ngồi không yên.
- Ngọ nguậy chân tay khi đang ngồi.
- Chạy nhảy, leo trèo ở những nơi lẽ ra không được làm vậy (phòng khách,…)
- Hay trả lời cắt ngang, nói leo.
- Rất kém trong khả năng chơi luân phiến.
c. QUÁ HẤP TẤP:
- Khó kiểm soát các phản ứng.
- Không ngừng lại suy nghĩ trước khi hành động.
- Nói và làm bất cứ điều gì vừa thoát ra khỏi ý nghĩ mà không để ý đến hiệu quả.
- Nói ra điều bất hợp lý, hối tiếc sau đó, buột ra câu trả lời ngay khi người khác đang hỏi.
- Gặp nhiều khó khăn khi đợi đến lượt.
- Thường bị đánh giá là không lắng nghe.

NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA TRẺ ADHD TRONG CUỘC SỐNG VÀ HỌC TẬP
Trẻ ADHD có rất nhiều khó khăn ở hai vấn đề cơ bản: quan hệ xã hội và học tập.
Trong quan hệ xã hội: trẻ khó kết bạn hoặc khó duy trì mối quan hệ bạn bè. 50-70% trẻ ADHD không có hoặc có rất ít bạn. Trẻ thường bị coi là trẻ con hơn các bạn cùng tuổi và khờ dại, dễ bị lừa, dễ bị lợi dụng. Trẻ có nhiều khiếm khuyết về kỹ năng xã hội (đặc biệt là không biết cách giải quyết xung đột) hoặc có kỹ năng nhưng do đặc điểm sinh lý thần kinh nên vẫn vi phạm lỗi. Trẻ không nhận thức được rằng hành vi của mình làm người khác bực mình. Trẻ gặp khó khăn rất nhiều trong việc kiểm soát cảm xúc, giọng nói, âm lượng, cường độ hoạt động. Kỹ năng giao tiếp được coi là quá kém vì không tập trung, không lắng nghe, phản hồi không chính xác, hay ngắt lời và chen ngang khi người khác đang nói.
Trong vấn đề học tập: 25-50% trẻ ADHD có khó khăn trong học tập trung đó: 29% trẻ gặp khó khăn về viết, 26.6% trẻ gặp khó khăn về đọc, 11% trẻ gặp khó khăn về toán và 33.4% trẻ gặp khó khăn trong các vấn đề khác.
Trong việc đọc hiểu: trẻ thường bỏ từ, bỏ đoạn, không nhớ đang đọc ở đâu, không duy trì tập trung chú ý khi đọc, khi nghe bạn đọc.
Trong việc viết, trẻ hay viết lạc đề, nội dung lộn xộn, viết xấu, mất nét vì đánh vần sai do bất cẩn, trình bày không đẹp, sử dụng sai dấu câu, sai ngữ pháp, không biết chỉnh sửa sau khi viết xong.
Trong làm toán, trẻ bất cẩn, gặp khó khăn trong các bài toán có lời giải, ít tự kiểm tra, sửa sai lại.
Ngoài ra, 50-70% trẻ ADHD có các rối loạn khác kèm theo như lo lắng, trầm cảm, chống đối. 30% trẻ ADHD thường bỏ học. 58% trẻ bị ở lại lớp ít nhất một lần. 50% trẻ ADHD gặp khó khăn nghiêm trọng trong các mối quan hệ xã hội.
CHIẾN LƯỢC HỖ TRỢ KHÓ KHĂN CHO TRẺ ADHD

Phụ huynh, thầy cô hãy hiểu chính trẻ cũng đang vật lộn với những khó khăn của chính mình, trẻ cần được can thiệp để hòa nhập cùng bạn bè cùng trang lứa.